Nội dung bài viết
Từ những năm đầu của thế kỷ 19, phong trào đấu tranh của công nhân ở Pháp đã trở thành một phần không thể thiếu trong lịch sử quốc gia này. Vậy phong trào này có tên gọi cụ thể là gì, và những yếu tố nào đã định hình nên cuộc chiến vì quyền lợi của giai cấp công nhân Pháp? Hãy cùng merakicenter.edu.vn khám phá chi tiết về hành trình đầy biến động này.
I. Quốc Tế Cộng Sản (Komintern) (1919 – 1943)
1. Quốc Tế Cộng Sản Thành Lập
Sau khi Ph. Ăngghen qua đời năm 1895, cơ quan lãnh đạo của Quốc tế thứ hai dần rơi vào tay các phần tử cơ hội chủ nghĩa, tiêu biểu là E.Bécxtainơ. Họ phủ nhận chuyên chính vô sản, liên minh công nông, và tư tưởng về chuyển cách mạng dân chủ tư sản lên cách mạng XHCN, đồng thời tuyên truyền thuyết “hòa bình giai cấp.” Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, các phần tử cơ hội chủ nghĩa công khai ủng hộ giai cấp tư sản nước họ, làm suy yếu uy tín và khả năng lãnh đạo của Quốc tế thứ hai, dẫn đến sự phân hóa và tan rã.
Ngay từ năm 1914, V. I. Lênin đã nhận thấy sự cần thiết phải thành lập một tổ chức quốc tế mới. Hội nghị Dimmécvan lần thứ nhất (9-1915) và lần thứ hai (4-1916) đã tập hợp những người cách mạng chân chính, phái tả Dimmécvan, lên tiếng chống chiến tranh đế quốc và đòi hòa bình. Tuy nhiên, các hội nghị này vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là không chấp nhận đường lối đấu tranh cách mạng triệt để của Lênin.

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất và Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi, điều kiện thành lập Quốc tế Cộng sản đã chín muồi. Lênin và Đảng Bônsêvích tích cực tập hợp lực lượng cách mạng vô sản, tiến tới thành lập tổ chức quốc tế mới. Tháng 1-1918, hội nghị đại biểu các phái tả họp ở Pêtrôgrát, nêu rõ sự cần thiết triệu tập hội nghị quốc tế của các chiến sĩ cách mạng vô sản chân chính. Tháng 1-1919, tại Mátxcơva, hội nghị của các đại biểu 8 đảng mácxít đã thông qua lời kêu gọi gồm 15 điểm, trình bày đường lối cách mạng đúng đắn và nêu lên sự cấp thiết thành lập Quốc tế Cộng sản.
Tháng 2-1919, Quốc tế thứ hai họp hội nghị ở Bécnơ, Thụy Sĩ, nhằm ngăn cản sự thành lập Quốc tế thứ ba, nhưng thất bại. Đại hội thành lập Quốc tế Cộng sản khai mạc ở Mátxcơva từ ngày 2 đến 6-3-1919, với sự tham gia của các đại biểu từ 19 đảng và nhóm, cùng quan sát viên từ 15 nước. Đại hội đã tự tuyên bố là Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản, Quốc tế thứ ba.
Đại hội thông qua Cương lĩnh của Quốc tế Cộng sản, được xây dựng theo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin do Lênin trình bày. Cương lĩnh vạch rõ thời đại mới, thời đại tan rã của chủ nghĩa tư bản, và vạch ra đường lối cách mạng triệt để là lật đổ chính quyền tư sản, giành chính quyền vô sản, thiết lập chuyên chính vô sản với sự giúp đỡ của nước Nga Xô viết.
Trong Tuyên ngôn gửi những người vô sản toàn thế giới, Đại hội kêu gọi đấu tranh quyết liệt để thực hiện chuyên chính vô sản. Tuyên ngôn nhấn mạnh vai trò của Quốc tế thứ ba là Quốc tế hành động quần chúng công khai, Quốc tế thực hiện cách mạng. Báo cáo “Luận cương và báo cáo về chế độ tư sản dân chủ và chuyên chính vô sản” của Lênin nhấn mạnh sự cần thiết của chuyên chính vô sản để đè bẹp sự phản kháng của giai cấp bị lật đổ và xây dựng xã hội mới.
Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương của Quốc tế Cộng sản. Lênin vạch rõ Quốc tế Cộng sản là người thừa kế và kế tục sự nghiệp của Quốc tế thứ nhất, thực hiện khẩu hiệu “chuyên chính vô sản.”
2. Hoạt Động Của Quốc Tế Cộng Sản Từ 1919 Đến 1943

Sau đại hội thành lập, phong trào cộng sản thế giới có bước tiến lớn. Ảnh hưởng của Quốc tế Cộng sản tăng cường, và quá trình hình thành các Đảng Cộng sản trong một số nước cũng xúc tiến thêm. Các tổ chức cộng sản thanh niên lần lượt xuất hiện, dẫn đến sự thành lập Quốc tế Cộng sản thanh niên.
Lênin kêu gọi đấu tranh không khoan nhượng với những người cơ hội và chống lại các quan điểm biệt phái tả khuynh. Ông nhấn mạnh sự cần thiết của một Đảng Cộng sản đoàn kết, kỷ luật, và kinh nghiệm. Tháng 4-1920, Lênin viết tác phẩm “Bệnh ấu trĩ ”tả khuynh” trong phong trào cộng sản” để chuẩn bị về tư tưởng cho Đại hội lần thứ hai của Quốc tế Cộng sản.
Đại hội II khai mạc 10-7-1920 tại Pêtrôgrát và Mátxcơva, với sự tham gia của đại biểu từ 37 nước. Đại hội bàn về vấn đề thành lập và củng cố các Đảng Cộng sản, đồng thời thu hút và tranh giành ảnh hưởng trong quần chúng. Đại hội thông qua báo cáo quan trọng của Lênin về tình hình thế giới và những nhiệm vụ cơ bản của Quốc tế Cộng sản, cùng 21 điều kiện gia nhập Quốc tế Cộng sản.
Một vấn đề quan trọng khác được thảo luận tại Đại hội II là vấn đề dân tộc thuộc địa. Báo cáo của Lênin về các vấn đề dân tộc thuộc địa vạch ra con đường đấu tranh cho các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc, cũng như chỉ ra sự phối hợp hành động giữa phong trào công nhân quốc tế và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Khẩu hiệu của C.Mác: “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại !” đã được Lênin phát triển thành: “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”.

Đại hội cũng thông qua điều lệ của Quốc tế Cộng sản, trong đó nguyên tắc tập trung dân chủ là cơ sở của tổ chức. Đại hội II là một trong những đại hội quan trọng nhất của Quốc tế Cộng sản, nó hoàn thành công việc thành lập Quốc tế thứ ba – Quốc tế Cộng sản.
Tiếp theo Đại hội II, tháng 12-1920, Đại hội của các Đảng Cộng sản phương Đông đã họp ở Bacu (Aidécbaigian) để bàn về tương lai của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. Năm 1921, trường Đại học lao động phương Đông được thành lập ở Mátxcơva nhằm đào tạo, bồi dưỡng lý luận cho cán bộ các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc.
Trong các năm từ 1921 đến 1923, các Đảng Cộng sản tiếp tục được thành lập ở nhiều nước. Quốc tế Cộng sản kêu gọi những đảng viên cộng sản đi vào quần chúng và thành lập Mặt trận công nhân thống nhất.
Đại hội III của Quốc tế Cộng sản họp từ ngày 22-6 đến 12-7-1921, tại Mátxcơva, nhận định rằng giai cấp vô sản đã tạm thời thất bại trong những cuộc đấu tranh giai cấp vừa qua do chính sách chia rẽ của các lãnh tụ Đảng Xã hội – dân chủ. Đại hội IV của Quốc tế Cộng sản họp từ ngày 5-11 đến ngày 5-12-1922, vạch ra nguy cơ của chủ nghĩa phát xít và đề ra khẩu hiệu thành lập mặt trận thống nhất trong các nước thuộc địa, phụ thuộc và phong trào công nhân chính quốc.
Quốc tế Cộng sản rất coi trọng việc xây dựng các tổ chức quần chúng: Quốc tế thanh niên (1919), Quốc tế phụ nữ (1920), Quốc tế công đoàn đỏ (1921), Quốc tế nông dân (1923). Nguyễn Ái Quốc đã tham gia Đại hội thành lập Quốc tế nông dân với tư cách là đại biểu của nông dân các nước thuộc địa và được bầu vào Ban chấp hành Quốc tế nông dân.
Đại hội V Quốc tế Cộng sản họp từ ngày 17-6 đến 8-7-1924 tại Mátxcơva với sự tham gia của 510 đại biểu. Nhiệm vụ chủ yếu của Đại hội V là “bônsêvích hóa” các Đảng Cộng sản. Đại hội V tiếp tục thảo luận về vấn đề dân tộc, thuộc địa. Nguyễn Ái Quốc đọc bản tham luận quan trọng, vạch trần chính sách áp bức dân tộc thuộc địa của bọn đế quốc thực dân.
Đại hội VI của Quốc tế Cộng sản, họp từ ngày 17-7 đến 11-9-1928, tại Mátxcơva, xác định nhiệm vụ chính của phong trào cộng sản quốc tế trong giai đoạn trước mắt là đấu tranh chống nguy cơ chiến tranh đế quốc đang đến gần.
Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản đã họp ở Mátxcơva, từ ngày 25-7 đến ngày 25-8-1935, trong hoàn cảnh cuộc tấn công của chủ nghĩa phát xít đang mở rộng. G. Đimitơrốp đã đọc bản báo cáo chính của Đại hội – “Sự tấn công của chủ nghĩa phát xít và những nhiệm vụ của Quốc tế Cộng sản trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít”. Báo cáo đã vạch rõ bản chất giai cấp của chủ nghĩa phát xít. Đại hội đã thông qua nghị quyết, trong đó nêu bật rằng mặt trận thống nhất rộng rãi đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít và chiến tranh phải được xây dựng trên phạm vi thế giới.
Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ hai, các Đảng Cộng sản đã có những cán bộ lãnh đạo có kinh nghiệm, có khả năng độc lập giải quyết những vấn đề của phong trào công nhân, những nhiệm vụ dân tộc đặt ra trong mỗi nước. Tháng 5-1943, Ban chấp hành Quốc tế cộng sản đã ra nghị quyết giải tán Quốc tế Cộng sản.
II. Một Số Phong Trào Cách Mạng Xã Hội Chủ Nghĩa Tiêu Biểu Sau Cách Mạng Tháng Mười Nga
Tháng 10-1918, đế quốc Áo – Hunggari tan vỡ và nhiều Xô viết đã xuất hiện ở hai nước Áo và Hunggari. Tại Hunggari, phong trào cách mạng lên cao và chuyển biến nhanh chóng sang cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Cách mạng dân chủ tư sản bùng nổ vào cuối tháng 10-1918. Ngày 21-11-1918, Đảng Cộng sản Hunggari được thành lập. Ngày 22-2-1919, Chính phủ tư sản bắt giam Bêlacun và nhiều lãnh tụ khác của Đảng Cộng sản. Ngày 21-3-1919, Hội đồng các Xô viết công nhân binh lính tuyên bố thành lập chính phủ Xô viết Hunggari.
Chính quyền Xô viết đã tiến hành những công việc to lớn, như quốc hữu hóa công nghiệp, ngân hàng, vận tải, nâng cao tiền lương 25% thi hành chế độ ngày làm việc 8 giờ. Tháng 6-1919 đã diễn ra Đại hội các Xô viết toàn Hunggari, trong đó đã thông qua hiến pháp của nước Cộng hòa Xô viết Hunggari.
Ngày 1-8-1919, chính quyền Xô viết Hunggari bị sụp đổ sau 133 ngày đấu tranh anh dũng. Cách mạng Hunggari năm 1919 xác minh một trong những nhân tố thắng lợi chủ yếu của Cách mạng tháng Mười Nga là: Đảng Mác xít – Lêninnít lãnh đạo khối công nông liên minh.
Ở Đức, ngày 13-4-1919, công nhân thành phố Muyních đã khởi nghĩa cướp chính quyền và thành lập nước Cộng hòa xô viết Bavie. Chính quyền Xô viết Bavie đã thực hiện chế độ công nhân quản lí xí nghiệp, quốc hữu hóa ngân hàng, tổ chức hồng quân và thành lập Ủy ban đặc biệt nhằm trấn áp bọn phản cách mạng.
Từ sau Cách mạng tháng Mười Nga, cùng với sự ra đời của các Đảng Cộng sản, một trào lưu cách mạng xã hội chủ nghĩa đã bùng nổ và ngày càng lan rộng ra nhiều nước trên thế giới.
III- Sự Thành Lập Quốc Tế Công Nhân Xã Hội Chủ Nghĩa
Sau khi Ph. Ăngghen qua đời, quyền lãnh đạo Quốc tế II chuyển sang tay những người cơ hội, họ bắt đầu xét lại học thuyết cách mạng của C.Mác. Vào đầu thế kỉ XX, trung tâm phong trào cách mạng chuyển sang nước Nga. Tuy nhiên, các lãnh tụ của Quốc tế II đã coi thường những bài học cách mạng, họ phủ nhận điều chủ yếu trong học thuyết của chủ nghĩa Mác là chuyên chính vô sản.
Từ đầu Chiến tranh thế giới thứ nhất, phần đông các lãnh tụ Đảng Xã hội – dân chủ đã chuyển sang hàng ngũ giai cấp tư sản. Quốc tế thứ hai thực tế bị tan rã.
Năm 1921, những người thuộc phải giữa trong Quốc tế thứ hai trước đây cũng tìm cách lôi kéo ảnh hưởng trong quần chúng, đã tuyên bố thành lập một quốc tế mới, gọi là Quốc tế hai rưỡi. Năm 1923, cả hai trung tâm xã hội – dân chủ nói trên đã hợp nhất lại thành lập quốc tế mới, gọi là Quốc tế Công nhân xã hội chủ nghĩa.
Quốc tế Công nhân xã hội chủ nghĩa vẫn tiếp tục đường lối của Quốc tế thứ hai trước chiến tranh được sự ủng hộ của giai cấp tư sản, coi mục đích chủ yếu là chống lại cách mạng vô sản, trước hết là chống lại Liên Xô xã hội chủ nghĩa.
Tới giữa những năm 20 của thể kỉ XX, Quốc tế Công nhân xã hội chủ nghĩa đã thu hút khoảng 6,5 đến 7 triệu đảng viên Đảng Xã hội – dân chủ và khoảng 25 triệu cử tri trong các đợt bầu cử. Tuy nhiên, các chính phủ Đảng Xã hội – dân chủ vẫn chỉ là công cụ phục vụ quyền lợi giai cấp tư sản.
Chính sách hợp tác giai cấp và ”chống cộng” đã đưa các Đảng Xã hội – dân chủ tới chỗ phá sản, trước sự tấn công của chủ nghĩa phát xít. Việc thành lập Mặt trận công nhân thống nhất đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít không được thực hiện, quá trình thành lập Mặt trận nhân dân chống phát xít bị ngăn cản.
Đường lối hợp tác giai cấp vô nguyên tắc của các lãnh tụ Đảng Xã hội – dân chủ đã là một trong những nguyên nhân để bọn phát xít lên cầm quyền ở một số nước và thổi bùng lên ngọn lửa Chiến tranh thế giới thứ hai.
IV. Sự Phát Triển Của Phong Trào Cộng Sản Và Công Nhân Quốc Tế Sau Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai
Giai đoạn phát triển mới của phong trào cộng sản quốc tế bắt đầu từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1945) đến giữa những năm 70. Thành tựu lớn nhất của phong trào cộng sản quốc tế là sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới.
Từ giữa những năm 70 về trước, các Đảng Cộng sản cầm quyền không những là đội ngũ lớn nhất về số lượng, mà còn là đội ngũ có uy tín chính trị và ảnh hưởng cách mạng rất rộng lớn trên thế giới.
Ở khu vực thế giới không xã hội chủ nghĩa các Đảng Cộng sản và công nhân nhiều khi phải hoạt đông bí mật. Các Đảng Cộng sản và công nhân là người đi tiên phong trong cuộc đấu tranh vì lợi ích của những người lao động, vì hòa bình, dân sinh và dân chủ.
Phong trào cộng sản quốc tế từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai có nhiều vấn đề mới cả về cơ cấu tổ chức, cơ chế soạn thảo đường lối, chính sách, lí luận và thực tiễn, quan hệ giữa các đảng v.v… Phong trào cộng sản quốc tế chuyển từ một tổ chức quốc tế tập trung thống nhất cao, có kỷ luật chặt chẽ nghiêm ngặt trước đây sang một phong trào chính trị quốc tế của các Đảng Cộng sàn tương đối độc lập, tự chủ, quan hệ với nhau bằng tình đoàn kết giai cấp có tính quốc tế, với những nguyên tắc tư tưởng và chiến lược chung.
Từ năm 1947 đến 1956, hình thức trao đổi kinh nghiệm và thống nhất các hoạt động của một số Đảng Cộng sản (chủ yếu là châu Âu) là Hội nghị thông tin của các đại biểu các đảng này, gọi tắt là Cục Thông tin quốc tế (Cục Thông tin cộng sản). Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các Đảng Cộng sản và công nhân đã tổ chức được nhiều Hội nghị quốc tế để trao đổi ý kiến, thảo luận, đánh giá các vấn đề lớn của thời đại.
Trong 50 năm qua, bên cạnh thành tựu to lớn, phong trào cộng sản quốc tế cũng gặp nhiều khó khăn và trải qua những thời điểm khủng hoảng nghiêm trọng. Cuối những năm 40, sự bất đồng diễn ra bắt đầu từ Đảng Cộng sản Liên Xô và Nam Tư, để rồi Đảng Cộng sản Nam Tư bị khai trừ ra khỏi Cục Thông tin vào tháng 2-1948. Vào cuối những năm 50 và những năm 60, những mâu thuẫn, bất đồng về đường lối, chiến lược, sách lược trong nội bộ phong trào cộng sản càng gay gắt.
Giai đoạn thứ hai của phong trào cộng sản quốc tế được bắt đầu từ giữa năm 70 đến đầu năm 1991. Ở giai đoạn này, phong trào cộng sản lâm vào khủng hoảng và suy thoái, và như nhiều người đứng đầu các Đảng Cộng sản nhận định, cuộc khủng hoảng đã lên đến “đỉnh của vòng xoáy trôn ốc”. Khủng hoảng ở ngay bộ phận nòng cốt của phong trào, cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô, chủ nghĩa xã hội bị thoái trào, các Đảng Cộng sản và công nhân bị mất chính quyền, chuyển sang vị trí đối lập.
Từ giữa những năm 70, nhiều Đảng Cộng sản ở các nước tư bản chủ nghĩa (Pháp, Italia, Anh, Thụy Điển, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Phần Lan, Nhật Bản, Mêhicô, Ôxtrâylia…) đã thấy rõ những hạn chế của mô hình “chủ nghĩa xã hội Xô viết và tuyên bố đi theo đường lối chủ nghĩa cộng sản châu Âu”. Cùng với những khó khăn và thất bại của các Đảng Cộng sản ở các nước Liên Xô và Đông Âu, nhiều Đảng Cộng sản ở các khu vực khác trên thế giới cũng gặp khó khăn trầm trọng.
Ban lãnh đạo một số đảng đã phạm sai lầm trong việc thống nhất tư tưởng và hành động của giai cấp công nhân. Bên cạnh đó cũng còn phải kể đến sự tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. Do thiếu nhạy cảm với cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, không thích ứng kịp với những thành tựu của khoa học – kĩ thuật mới, ban lãnh đạo một số đảng chậm đề ra chiến lược phát triển khoa học – công nghệ, làm sản xuất trì trệ, mức sống của nhân dân giảm sút.
V. Cục Thông Tin Quốc Tế
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, hoạt động của phong trào cộng sản quốc tế, của các Đảng Cộng sản mở rộng hơn nhiều so với thời kì trước chiến tranh.
Tháng 9-1947, theo sáng kiến của Đảng Cộng sản Liên Xô, tại Vacxava đã họp Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản Liên Xô, Bungari, Hunggari, Ba Lan, Rumani, Tiệp Khắc, Nam Tư, Pháp và Italia. Hội nghị quyết định thành lập cơquan thông tin của các Đảng Cộng sản và công nhân (Kominform, thường gọi là Cục Thông tin quốc tế) với nhiệm vụ tổ chức việc trao đổi kinh nghiệm và phối hợp hành động giữa các đảng một cách tự nguyện.
Việc thành lập Cục Thông tin quốc tế và quá trình hoạt động của nó trên những mức độ nào đã thúc đẩy sự phát triển của phong trào cộng sản quốc tế, góp phần tác động đến sự trưởng thành về chính trị – tư tưởng và tổ chức của các Đảng Cộng sản xúc tiến việc phối hợp chung trong đường lối chiến lược, sách lược của phong trào cộng sản quốc tế trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, Hội nghị Vacxava cũng chưa đánh giá đầy đủ vai trò, tác dụng của cao trào giải phóng dân tộc ở Á – Phi – Mĩ Latinh. Và cũng từ Hội nghị này, phong trào cộng sản quốc tế đã biểu lộ những rạn nứt, bất đồng về quan điểm.
Cục Thông tin quốc tế không phải là cơ quan lãnh đạo, nhưng đã phạm sai lầm, như áp đặt tư tưởng và đường lối của Đảng Cộng sản Liên Xô đối với các đảng khác. Điều ấy đã làm phương hại đến sự thống nhất của phong trào cộng sản quốc tế.
Tháng 4-1956, Cục Thông tin của các Đảng Cộng sản và công nhân đã thông qua nghị quyết về việc ngừng hoạt động của tổ chức này.
Sau khi Cục Thông tin quốc tế chấm dứt hoạt động, trong những năm 1956 – 1958 đã phát triển những hình thức trao đổi, liên hệ mới – những cuộc hội đàm tay đôi, những cuộc tiếp xúc, gặp gỡ các đoàn đại biểu Đảng Cộng sản và công nhân, việc các đoàn đại biểu Đảng Cộng sản và công nhân đi tham dự đại hội của các đảng anh em – nhằm thảo luận những vấn đề có liên quan đến các đảng, những vấn đề chung của phong trào cách mạng thế giới.
VI. Hội Nghị Của Các Đảng Cộng Sản Và Công Nhân Quốc Tế (1957, 1960 Và 1969)
1. Hội Nghị Đại Biểu Các Đảng Cộng Sản Và Công Nhân 1957 Tại Matxcơva
Vào cuối những năm 50, phong trào cách mạng thế giới có những bước phát triển mới, nhưng đồng thời lại xuất hiện những diễn biến phức tạp. Hội nghị các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế (họp tháng l1-1957 tại Matxcơva có ý nghĩa quan trọng đối với việc củng cố phong trào cộng sản quốc tế.
Hội nghị năm 1957 đã thảo luận tình hình thế giới và đưa ra nhiều nhận định quan trọng về lí luận, đường lối chiến lược và sách lược của phong trào cộng sản quốc tế. Hội nghị cho rằng vấn đề nóng hổi của tình hình chính trị thế giới là vấn đề chiến tranh và hòa bình, rằng cùng tồn tại hòa bình là nguyên tắc căn bản của nền chính trị thế giới. Hội nghị khẳng định nhiệm vụ trước tiên của các Đảng Cộng sản là đấu tranh cho hòa bình.
Hội nghị thừa nhận sự đa dạng các hình thức quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, khả năng thực hiện cách mạng XHCN bằng con đường hòa bình và giành chính quyền không cần nội chiến.
Tuy trong Tuyên bố Matxcơva năm 1957 đã có sự thỏa hiệp (trước hết là giữa các Đảng Cộng sản lớn), nhưng những bất đồng về đường lối giữa một số đảng vẫn tồn tại và có chiều hướng gia tăng.
2. Hội Nghị Đại Biểu Các Đảng Cộng Sản Và Công Nhân (Tháng ll-1960) Tại Matxcơva
Chỉ ba năm sau Hội nghị Matxcơva năm 1957, đã có nhiều biến đổi quan trọng diễn ra trên thế giới và trong phong trào cộng sản quốc tế. Các lực lượng đế quốc tăng cường tấn công vào cách mạng. Trong bối cảnh như thế, những thế lực cơ hội, xét lại đang nắm quyền ở một số Đảng Cộng sản lại đưa ra đường lối ”chung sống hòa bình”, thỏa hiệp giai cấp vô nguyên tắc và trong phong trào cộng sản quốc tế lại xuất hiện một trào lưu mới hết sức nguy hại – chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa biệt phái.
Trong bối cảnh lịch sử này, Hội nghị đại biểu của 81 Đảng Cộng sản và công nhân họp ở Matxcơva vào tháng 11-1960. Đây là hội nghị lớn nhất từ trước đến nay của phong trào cộng sản quốc tế.
Hội nghị Matxcơva năm 1960 đã khẳng định và kế thừa những nội dung cơ bản của bản Tuyên bố năm 1957, phát triển và bổ sung thêm một số luận điểm quan trọng. Hội nghị đã phân tích tình hình quốc tế và những vấn đề cơ bản của thế giới, đưa ra khái niệm về “thời đại hiện nay”, xác định nhiệm vụ hàng đầu của các Đảng Cộng sản và công nhân là bảo vệ và củng cố hòa bình ngăn chặn bọn đế quốc hiếu chiến phát động chiến tranh thế giới mới, tăng cường đoàn kết phong trào cộng sản đấu tranh cho hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Từ năm 1960 đến 1969 là thời kì đầy phức tạp của phong trào công nhân. Những bất đồng và mâu thuẫn trong nội bộ phong trào công nhân quốc tế, đặc biệt giữa Liên Xô và Trung Quốc (sau hai Hội nghị năm 1957 và 1960), không dịu đi mà ngày càng trầm trọng, công khai. Mâu thuẫn giữa hai Đảng Cộng sản Liên Xô và Trung Quốc đã nảy nở từ 1945, được dịu bớt đi vào những năm 50. Nhưng từ sau Hội nghị Matxcơva (1957), mối quan hệ giữa hai đảng trở nên xấu đi.
3. Hội Nghị Đại Biểu Các Đảng Cộng Sản Và Công Nhân Năm 1969 Tại Matxcơva
Sau Hội nghị Matxcơva năm 1960, hoạt động lí luận và thực tiễn của các Đảng Cộng sản và công nhân được tăng cường hơn trước. Hội nghị quốc tế lần thứ ba của 75 Đảng Cộng sản và công nhân đã diễn ra ở Matxcơva vào mùa hè 1969 để đề ra đường lối, củng cố sự thống nhất phong trào cộng sản quốc tế và các lực lượng chống đế quốc.
Hội nghị Matxcơva thông qua văn kiện: “Những nhiệm vụ đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc trong giai đoạn hiện tại và sự thống nhất hành động của các Đảng Cộng sản, công nhân và tất cả các lực lương chống đế quốc”. Văn kiện đã phân tích tình hình thế giới, những đặc điểm nổi bật trong sự phát triển của chủ nghĩa đế quốc thế giới, chiến lược và sách lược của chúng, và nhận định trong hiện nay chủ nghĩa đế quốc vẫn là kẻ thù nguy hiểm của nhân dân thế giới.
Từ những năm 1970 trở về sau, nhiều Đảng Cộng sản trưởng thành hơn và đã tự giải quyết các vấn đề tư tưởng, lí luận, đường lối chiến lược, sách lược hoạt động của mình. Vì vậy, thời kì các hội nghị quốc tế các đảng như trước cũng không còn nữa. Dựa trên các văn kiện hội nghị quốc tế những năm 1957, 1960 và 1969, gần 50 đảng trong giai đoạn này đã thông qua cương lĩnh mới hoặc sửa đổi cương lĩnh, điều chỉnh chiến lược và sách lược hoạt động của mình.
Trong những năm 60 và 70, phong trào cộng sản quốc tế ngày càng phát triển đa dạng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu trước những biến đổi không ngừng của điều kiện thực tế.
VII. Quốc Tế Xã Hội Chủ Nghĩa
Quốc tế Xã hội chủ nghĩa là một tổ chức quốc tế tập hợp các Đảng Xã hội – dân chủ, các Đảng Xã hội chủ nghĩa và các Đảng Công nhân đang hoạt động ở nhiều nước tư bản chủ nghĩa và một số nước khác trên thế giới. Tổ chức này được thành lập tại Đại hội lần thứ nhất họp ở thành phố Phranphuốc trên sông Mainơ (CHLB Đức) từ ngày 30-6 đến 3-7-1951.
Trong Đại hội thành lập của mình, Quốc tế Xã hội chủ nghĩa đã ra bản tuyên bố có tính chất cương lĩnh với nhan đề ”Về mục tiêu và nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội dân chủ”, trong đó định hình rõ khái niệm ”chủ nghĩa xã hội dân chủ”. Các đảng trong Quốc tế này dự định thực hiện ”bằng biện pháp dân chủ” trong tất cả các lĩnh vực của đời sống để cải cách chủ nghĩa tư bản thành chủ nghĩa xã hội.
Quốc tế xã hội chủ nghĩa đã không ngừng phát triển về số lượng và tổ chức của mình.
Ngoài các đảng là thành viên hoạt động ở nhiều nước tư bản chủ nghĩa, Quốc tế Xã hội chủ nghĩa còn lập ra một hệ thống các tổ chức như: Hội quốc tế của những người xã hội trẻ, Phụ nữ quốc tế xã hội, Quốc tế thể thao công nhân, Hội quốc tế nhà giáo dân chủ – xã hội, Tổ chức xã hội chủ nghĩa châu Á – Thái Bình Dương, Hội liên hiệp sinh viên quốc tế xã hội chủ nghĩa, Liên đoàn công nhân Do Thái quốc tế, v.v…
Quốc tế Xã hội chủ nghĩa cố gắng thích nghi với những biến đổi trên thế giới, đã thay đổi cương lĩnh trước đây và đề ra cương lĩnh mới cho giai đoạn hiện nay.
Trong những năm gần đây, trước sự biến động của tình hình thế giới, các Đảng Xã hội – dân chủ muốn đề ra một cương lĩnh mới thay thế cho cương lĩnh 1951. Những người xã hội – dân chủ thường nói đến khái niệm “thời đại Bơran”, có nghĩa rằng, từ khi Bơran trở thành Chủ tịch mới của Quốc tế năm l976, đã mở ra ”một thời kì mới”, có nhiều thay đổi tiến bộ trong hoạt động của trào lưu xã hội – dân chủ hiện đại.
So với Tuyên bố Phranphuốc 1951, trong Tuyên bố Xtốckhôm 1989 có những thay đổi đáng kể về quan niệm tư duy và định hướng hoạt động của mình. Quốc tế Xã hội chủ nghĩa đặc biệt nhấn mạnh đến những giá trị chung của loài người như: hòa bình, tự do, dân chủ, bình đẳng, công bằng, nhân đạo, đoàn kết…
Quốc tế Xã hội chủ nghĩa cố gắng đáp ứng những vấn đề xã hội và những vấn đề toàn cầu. Các Đảng Xã hội – dân chủ, nhất là những đảng nắm chính quyền trong các nước tư bản, có những chính sách đáp ứng những lợi ích nhất định của người lao động, đặc biệt họ đã đạt được những tiến bộ xã hội trong mấy thập niên gần đây.
Về đường lối quốc tế, các đảng thuộc Quốc tế Xã hội chủ nghĩa ủng hộ việc giữ gìn hòa bình thế giới và tán thành mục tiêu xóa bỏ nguy cơ “chiến tranh lạnh”, chống chạy đua vũ trang, bày tỏ quan điểm thực hiện chính sách hòa dịu.
Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, Quốc tế Xã hội chủ nghĩa đã có chủ trương cải thiện rõ rệt. Họ khuyến khích các Đảng Xã hội – dân chủ tiếp xúc, đối thoại với các Đảng Cộng sản, công nhân dựa trên nguyên tắc của họ.
Tuy nhiên vẫn còn không ít những khó khăn và những bất đồng cơ bản tồn tại giữa trào lưu xã hội – dân chủ và những người cộng sản.
Quốc tế Xã hội chủ nghĩa cố gắng đáp ứng những vấn đề xã hội và những vấn đề toàn cầu.
VIII. Những Nét Chung Về Phong Trào Cộng Sản Quốc Tế Sau Sự Sụp Đổ Của Chế Độ Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Liên Xô Và Đông Âu
Sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, một thời kỳ mới của phong trào cộng sản quốc tế đã đến với nhiều thử thách, khó khăn và thời cơ thuận lợi mới.
Triển vọng và tương lai của phong trào cộng sản trong những năm tới tùy thuộc vào quá trình ”phục sinh”, đổi mới của các Đảng Cộng sản đang diễn ra hiện nay. Tình hình, xu hướng và quá trình phát triển của phong trào cộng sản quốc tế của các Đảng Cộng sản sau năm 1991 đến nay rất đa dạng, phức tạp, đan xen giữa những hiện tượng tiêu cực và tích cực, không đồng đều cả về thời gian, quy mô và mức độ.
1. Phong Trào Cộng Sản Và Cánh Tả Ở Liên Xô Cũ Và Đông Âu Bước Đầu Phục Hồi
Những biến động trong thời kì 1989 – 1991 ở Liên Xô và Đông đã giáng một đòn nặng nề và làm tổn thất lớn đến phong trào xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản quốc tế. Mấy năm gần đây, những người cộng sản kiên trì đấu tranh làm cho phong trào cộng sản bắt đầu bước vào thời kì phục hồi.
Trong con mắt của giai cấp tư sản phương Tây, các Đảng Cộng sản đã tan rã. Nhưng ở khu vực Liên Xô cũ, mặc dù chủ nghĩa xã hội đã bị thất bại, lí tưởng cộng sản, lí tưởng xã hội chủ nghĩa vẫn chưa bị phai mờ, mà đang dần dần được phục hồi trên mảnh đất này.
2. Phong Trào Cộng Sản Ở Tây Âu
Sau sư sụp đổ của chế đô XHCN ở Liên Xô và Đông Âu, hầu hết các Đảng Cộng sản ở Tây Âu đều có đại hội bất thường để định hướng lại tổ chức và hoạt động. Đa số các Đảng Cộng sản khẳng định trung thành với lí tưởng cộng sản và chủ nghĩa Mác, giữ nguyên bản sắc, tên gọi cũ của mình.
Mấy năm gần đây, ảnh hưởng trong xã hội của các Đảng Cộng sản Tây Âu có phần được mở rộng, bước đầu ngăn chặn được tình trạng giảm sút số lượng đảng viên và phiếu bầu bị tụt.
3. Phong Trào Cộng Sản Ở Các Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Còn Lại
Nguồn: https://merakicenter.edu.vn/ Tác giả: Nguyễn Lân dũng

Nội dung được phát triển bởi đội ngũ Meraki Center với mục đích chia sẻ và tăng trải nghiệm khách hàng. Mọi ý kiến đóng góp xin vui lòng liên hệ tổng đài chăm sóc: 1900 0000 hoặc email: [email protected]