Nội dung bài viết
Yếu tố có hại được định nghĩa như thế nào theo Luật ATVSLĐ 2015?
Theo khoản 5 Điều 3 của Luật ATVSLĐ 2015, yếu tố có hại được định nghĩa là:
Yếu tố gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe con người trong quá trình lao động.
Điều này có nghĩa là bất kỳ yếu tố nào trong môi trường làm việc có khả năng gây ra các vấn đề sức khỏe cho người lao động đều được xem là yếu tố có hại. Các yếu tố này có thể là hóa chất độc hại, tiếng ồn vượt ngưỡng, nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp, ánh sáng không đủ, hoặc các yếu tố sinh học như vi khuẩn, virus.
Kiểm soát yếu tố có hại tại nơi làm việc theo quy định
Điều 18 của Luật ATVSLĐ 2015 quy định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc kiểm soát các yếu tố có hại tại nơi làm việc:
- Đánh giá và kiểm soát: Tổ chức đánh giá, kiểm soát yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại để đưa ra biện pháp kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động và chăm sóc sức khỏe cho người lao động. Thực hiện các biện pháp khử độc, khử trùng cho người lao động làm việc ở nơi có yếu tố gây nhiễm độc, nhiễm trùng.
- Quan trắc môi trường lao động: Đối với yếu tố có hại mà Bộ trưởng Bộ Y tế quy định giới hạn tiếp xúc cho phép, người sử dụng lao động phải tổ chức quan trắc môi trường lao động ít nhất một lần/năm. Đơn vị quan trắc phải đáp ứng đủ điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực.
- Thông báo và khắc phục: Ngay sau khi có kết quả quan trắc môi trường lao động và kết quả kiểm tra, đánh giá, quản lý yếu tố nguy hiểm, người sử dụng lao động phải:
- Thông báo công khai cho người lao động tại nơi quan trắc và nơi kiểm tra, đánh giá.
- Cung cấp thông tin khi có yêu cầu từ tổ chức công đoàn, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
- Thực hiện biện pháp khắc phục, kiểm soát yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại để đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động, chăm sóc sức khỏe cho người lao động.

Chính phủ có quy định chi tiết về việc kiểm soát yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc và điều kiện hoạt động của tổ chức quan trắc môi trường lao động, đảm bảo phù hợp với Luật Đầu tư 2020 và Luật Doanh nghiệp 2020.
Quy định về trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân (PTBVCN)
Điều 23 của Luật ATVSLĐ 2015 quy định về việc trang cấp PTBVCN cho người lao động làm việc trong môi trường có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại:
- Trang cấp đầy đủ và sử dụng: Người lao động phải được trang cấp đầy đủ PTBVCN và phải sử dụng chúng trong quá trình làm việc.
- Giải pháp công nghệ: Người sử dụng lao động phải thực hiện các giải pháp công nghệ, kỹ thuật, thiết bị để loại trừ hoặc hạn chế tối đa yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại và cải thiện điều kiện lao động.
- Nguyên tắc trang cấp:
- Đúng chủng loại, đúng đối tượng, đủ số lượng, đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
- Không phát tiền thay cho việc trang cấp PTBVCN; không buộc người lao động tự mua hoặc thu tiền của người lao động để mua PTBVCN.
- Hướng dẫn, giám sát người lao động sử dụng PTBVCN.
- Tổ chức thực hiện biện pháp khử độc, khử trùng, tẩy xạ đảm bảo vệ sinh đối với PTBVCN đã qua sử dụng ở những nơi dễ gây nhiễm độc, nhiễm trùng, nhiễm xạ.

Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có trách nhiệm quy định chi tiết về chế độ trang cấp PTBVCN trong lao động.
Xử phạt vi phạm về trang cấp PTBVCN
Việc không trang cấp hoặc trang cấp không đầy đủ PTBVCN cho người lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại sẽ bị xử phạt theo quy định tại khoản 8 Điều 22 Nghị định 12/2022/NĐ-CP:
- Mức phạt tiền: Tùy thuộc vào số lượng người lao động bị vi phạm, mức phạt tiền có thể từ 3.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với cá nhân và từ 6.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với tổ chức.
Cụ thể:
- Vi phạm từ 01 đến 10 người lao động: 3.000.000 – 6.000.000 đồng (cá nhân), 6.000.000 – 12.000.000 đồng (tổ chức).
- Vi phạm từ 11 đến 50 người lao động: 6.000.000 – 10.000.000 đồng (cá nhân), 12.000.000 – 20.000.000 đồng (tổ chức).
- Vi phạm từ 51 đến 100 người lao động: 10.000.000 – 15.000.000 đồng (cá nhân), 20.000.000 – 30.000.000 đồng (tổ chức).
- Vi phạm từ 101 đến 300 người lao động: 15.000.000 – 20.000.000 đồng (cá nhân), 30.000.000 – 40.000.000 đồng (tổ chức).
- Vi phạm từ 301 người lao động trở lên: 20.000.000 – 30.000.000 đồng (cá nhân), 40.000.000 – 60.000.000 đồng (tổ chức).
Kết luận
Việc hiểu rõ định nghĩa và các quy định liên quan đến yếu tố có hại trong Luật ATVSLĐ 2015 là vô cùng quan trọng để doanh nghiệp và người lao động chủ động phòng ngừa rủi ro, đảm bảo an toàn và sức khỏe trong quá trình làm việc. Tuân thủ đúng các quy định của pháp luật không chỉ giúp giảm thiểu tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà còn góp phần xây dựng môi trường làm việc an toàn, lành mạnh và bền vững.
Tài liệu tham khảo:
- Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015
- Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Nội dung được phát triển bởi đội ngũ Meraki Center với mục đích chia sẻ và tăng trải nghiệm khách hàng. Mọi ý kiến đóng góp xin vui lòng liên hệ tổng đài chăm sóc: 1900 0000 hoặc email: [email protected]